Phạm Quỳnh (1892 - 1945)

04:09' CH - Thứ hai, 29/06/2009

PHẠM QUỲNH (1892 - 1945)

Phạm Quỳnh - hiệu Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân - là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu.

Ông chủ trương chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến.

1. Tiểu sử

- Ông sinh ra ở Hà Nội ngày 17-12-1892.
- Năm 1908, sau khi đỗ đầu bằng Thành chung (tốt nghiệp) Trường trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi, còn gọi là trường Thông ngôn), ông làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội.
- 1913, ông làm biên tập viên cho Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh.
- Năm 1917-1932 ông làm chủ bút Nam Phong tạp chí, dưới sự bảo trợ của ông Louis Marty, Trưởng phòng Chính trị tại phủ Toàn Quyền Pháp, Hà Nội, tuyên truyền cho tư tưởng "Pháp Việt đề huề".
- Cũng trong thời kỳ 1924-1932, ông làm Giảng sư khoa Văn Chương và Ngôn Ngữ Hán-Việt, Trường Cao đẳng Hà Nội.
- Năm 1922, Phạm Quỳnh còn tham gia sáng lập và làm Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến đức, giữ cương vị Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ. Ông đã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille có bài diễn thuyết ở cả Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp.
Năm 1925-1928, làm Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ.
Năm 1926, làm nhân viên Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ.
- Năm 1929, ông được cử vào Đại hội nghị Kinh tế Lý tài Đông Dương, cùng với ông Nguyễn Văn Vĩnh.
- Năm 1930, trước phong trào nổi dậy của dân Việt, đối với chính quyền Pháp, Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của người dân Việt, vua quan Việt, và chính quyền Bảo Hộ Pháp.
- Năm 1931, Phó Hội Trưởng, Hội Địa Dư Hà Nội,
- Năm 1931- 1932, Tổng Thư Ký, Ủy Ban Cứu Trợ Xã Hội Bắc Kỳ.
- Cuối năm 1932, ông vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, thời gian đầu làm Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).
- Năm 1939, ông cùng vua Bảo Đại sang Pháp xin chính phủ Pháp trả lại Bắc Kỳ cho triều đình Huế (theo đúng Hiệp Ước 1884 Pháp Việt đã ký).
- Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam.
- Ngày 23-8-1945 ông bị Việt Minh bắt và giam ở lao Thừa Phủ, Huế. Trong lúc du kích dẫn giải cấp tốc ông cùng với nguyên Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của Ngô Đình Khôi) rời khỏi Huế đề phòng những chuyện bất trắc không hay. Cả ba