Dương Hướng thấy gì Dưới Chín Tầng Trời?

GS. Hoàng Ngọc Hiến
05:03' CH - Thứ hai, 20/06/2011

Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến nhận định về cuốn tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Dương Hướng: “Nếu như tiểu thuyết trước hết là cốt truyện thì tác phẩm “Dưới chín tầng trời” thừa sức hấp dẫn. Vì cốt truyện rất ly kỳ, nhiều tuyến nhân vật quan hệ éo le, số phận ba chìm bẩy nổi …, nhiều tuyến hành động diễn ra các miền Trung, Nam, Bắc, có xóm làng và thành phố, có chiến trường ác liệt ở miến Nam và sinh hoạt nhộn nhạo, rối ren vùng biên giới phía Bắc…Với tôi thì tiểu thuyết trước hết là những nhân vật. Tôi sẽ bình phẩm những nhân vật đáng chú ý”

Dưới chín tầng trời là câu chuyện trải dài qua những biến cố lớn lao của dân tộc: cải cách ruộng đất, phong trào hợp tác hóa ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ, chiến tranh biên giới phía Bắc, thời hậu chiến và thời mở cửa… Qua bi kịch của gia tộc Hoàng Kỳ, số phận long đong của những người dân làng Đoài, sự lụn bại của gia đình thương nhân Đức Cường sau giải phóng, con đường vươn đến quyền lực của cán bộ Trần Tăng, cuộc đời ba chìm bảy nổi của tỷ phú Đào Kinh, thân phận chín lênh đênh của những người đàn bà… đã hiện lên những sai lầm, ấu trĩ của một thời kỳ lịch sử mà bất cứ ai trong thời điểm đó, dù biết được hay không cũng chẳng thể vượt qua. Dưới ngòi bút trực diện, nhiều khi thô ráp, cùng với lối kể chuyện tràn những chi tiết rất thật của Dương Hướng, tưởng chừng như đã thấp thoáng cái nhân vật chính mà tác giả muốn hướng tới, muốn phác họa: lịch sử.


Để sự bình phẩm bớt đơn điệu, thỉnh thoảng tôi chêm vào những câu triết lý vặt. Về mặt này, thì Dương Hướng hơn tôi. Anh cũng hay triết lý vặt (chẳng hạn như đoạn luận bàn về sự vĩ đại tội ác, xem tr. 16) nhưng đôi khi anh đặt ra được những vấn đề có chiều sâu tư tưởng đáng suy nghĩ.

Chẳng hạn, trong cảnh xã Quyết Thắng quyên góp, nghe tiếng loa xướng danh những nữ thương gia hảo tâm thì trong đám đông có những lời qua tiếng lại:

--Làng mình thế mà oai thật. Toàn những người tài giỏi.

--Giỏi đánh đĩ thì có, mụ Còn thì thầm vào tai cô Lùn

-- Con mụ này rõ bạc, nó đánh đĩ nhưng có lòng, chả hơn cả đời chả ai moi được ở mụ một xu. (xem tr. 466)

-- Tao nghèo nhưng trong sạch

Vấn đề được bao hàm trong mẩu đối thoại nói trên được sáng tỏ qua lời phán của một nhiêu, xã “lý sự” trong đám đông: “…Những kẻ luôn lên giọng cao đạo hóa ra lại vô tích sự chẳng bao giờ nghĩ đến ai ngoài chăm lo cho bản thân, còn những người mà ta cho là xấu xa hèn mọn lại làm nên mọi chuyện hay ra trò…” (xem tr. 467). Đánh giá như thế nào đây: “Đánh đĩ nhưng có lòng” và “trong sạch nhưng chả ai moi được… một xu”, đây là một vấn đề căn bản trong đời sống đạo đức xã hội ta ngày nay, có khi nhiều vị hủ nho “Tây cổ” và “Tầu cổ” qua sự suy ngẫm về vấn đề này may ra thì lột xác được. Đời sống hệ tư tưởng của chúng ta sẽ đơn giản hơn, trong sáng và minh bạch hơn rất nhiều nếu như chỗ nhấn được đặt vào chỗ đáng nhấn: có lòng hay không có lòng.(Người “có lập trường” mà “không có lòng” có khi nguy hiểm và tệ hại hơn người “ lập trường không vững” mà “có lòng”)

Có một “thời đại” trong lịch sử đương đại Việt Nam (kể từ sau Cách mạng tháng Tám) được nhiểu nhân vật trong tiểu thuyết nhắc đến, mỗi người xác định nó một cách, nhưng mọi người đều thừa nhận sức ép tuyệt đối của nó, sự áp đảo khủng khiếp của nó, giống như định mệnh vậy.

Mây góp cho xã một khoản tiền lớn được hoan hô nhiệt liệt. Trong đám đông liền có lời dèm pha: “Sao bảo có thời nhà nó cũng khốn khó lắm. Nghe nói mấy chị em nó phải đi làm đĩ.” (xem tr. 465). Lập tức có lời biện bạch: “Cái thời ấy cả nước khốn khó đâu riêng nhà nó”. Đã có người nói “cái thời ấy cả nước khốn khó…” thì cũng có người nói “cái thời ấy cả nước nói dối …” và vân vân, vân vân… Phải thấy tính chất nghiêm trọng của những hậu quả mà thời ấy để lại.

Hoàng Trung Kỳ, suốt một đời phục vụ trong quân đội lên đến cấp tướng thổ lộ với con trai kinh nghiệm làm sao sống sót được: “…phải nhận biết và chịu đựng cả lỗi lầm xấu xa tồi tệ của thời đại mình đang sống “ (xem tr. 346)

Để bào chữa cho Trần Tăng, một cán bộ lãnh đạo cao cấp, Tuyết cho rằng “những lỗi lầm to lớn của ông, những trò ma mãnh của ông, những mưu mô toan tính quyền lực của ông cũng chỉ là tai nạn của thời đại mà thôi…, những tai nạn nó làm méo mó què quặt tâm hồn con người” (xem tr. 367)

Sức áp đảo ghê gớm của thời cuộc lại được một người trong đám đông “tố” lên trong bữa tiệc sau buổi gặp mặt đồng hương: “… đã sinh ra trên cõi đời này chẳng thằng nào muốn xấu, chẳng qua là thời cuộc khốn cùng nó dồn đẩy làm con người ta cứ hèn đi” (xem tr. 467)

Cái “thời” khốn khó ấy, cái “thời đại” tai quái ấy, cái “thời cuộc” khốn cùng ấy đã được Dương Hướng phác thảo, bao giờ thì những nhà khoa học lập được những hồ sơ chính trị, xã hội học, sử học… cho “thời ấy”?

Trong tiểu thuyết “Dưới chín tầng trời” có nhiều nhân vật chính, khó mà nói nhân vật nào là trung tâm. Trong các nhân vật chính đáng chú ý, trước hết phải nói đến Yến Quyên. Chị có dáng dấp thục nữ truyền thống, chồng đi bộ đội biền biệt một mực kiên trinh, chăm lo gia đình, đồng thời luôn luôn sốt sắng với công việc của làng xã. Mặc dù làm dâu trong một gia đình là nạn nhân thảm thương của cải cách ruộng đất, Yến Quyên hăng hái tham gia phong trào hợp tác, gần như sống chết với hợp tác. Suốt một đời, ở mọi mặt, Yến Quyên không hề có điều gi đáng chê trách. Đây là một nhân vât thánh thiện. Kiểu nhân vật này có chỗ đứng trong tiểu thuyết đương đại không? Nhân vật Yến Quyên thánh thiện có sức thuyết phục không? Độc giả sẽ trả lời câu hỏi này. Có người sẽ phản bác: trên đời này làm gì có người phụ nữ thánh thiện như vậy? Nhưng đây là tiểu thuyết. Thể loại văn học này đã hư cấu bao hình tượng phi thường, phi lý, cớ sao lại không được hư cấu nhân vật thánh thiện? Miễn là có sức thuyết phục.

Hoàng Kỳ Nam, con trai Yến Quyên cũng gần gần thánh thiện như mẹ. Khi cầm súng ngoài mặt trận cũng như khi cầm bút viết báo, nhân vật Nam hầu như không có gì đáng chê trách (có một lần anh bị xử trí oan là do bị hiểu lầm). Tình yêu của Nam với Thương Huyền là tình yêu platonic. Một lần và mãi mãi, một mối tình đắm đuối và bất tận, ngoài nhục cảm. Trong thế giới tiêu dùng và thực dụng ngày này, tình yêu platonic bị xem là một mê sảng lạc lõng. Nhưng trong tiểu thuyết Đông, Tây, kim, cổ có đủ thứ mê sảng trên đời . Nhân vật trung tâm của Đôn Kihôtê -- cuốn tiểu thuyết số một của văn chương thế giới – luôn luôn sống với những mê sảng. Nhân vật Nam hiện đại hơn nhân vật Yến Quyên. Nam có ý thức về cá tính tự do (Marx dùng từ này để xác định nhân cách con người trong xã hội tương lai). Trong cá tính tự do, Marx nhấn mạnh sự tự do của mỗi người phát triển những năng lực nhân tính được chứa đựng trong nhân cách của mình. Do nhu cầu của cá tính tự do, Nam đã có hai quyết định quan trọng: bỏ vợ và bỏ nghề. Vào tuổi năm mươi, Nam ly hôn với Tuyết, người vợ anh chưa bao giờ yêu. Hôn nhân không tình yêu là xiềng xích trói buộc, kìm hãm năng lực nhân tính quan trọng bậc nhất của con người là yêu. Trong hoạt động làm báo, Nam gặp phải một trở ngại lớn: anh phải viết “theo sự sắp đặt của ông tổng biên tập”. Nam có đủ cá tính tự do để cảm thấy xấu hổ phải viết theo ý của người khác, và anh bỏ nghề. Tác giả nhấn mạnh cảm hứng “cá tính tự do” quyết liệt đã thúc đẩy 2 quyết định quan trọng trong đời của Nam: bỏ vợ, anh thành “người tự do một nửa”, anh bỏ nghề để “thành người tự do hoàn toàn” (xem tr. 412).Tôi có cảm tình với nhân vật Nam. Anh là “ một tâm hồn tự do và(có) trách nhiệm”. Ngừơi lính có tinh thần trách nhiệm đến quên mình khi cầm súng ngoài mặt trận thì cũng là người tình hết lòng chăm sóc cho người yêu bị mất trí, chỉ còn là thân tàn ma dại : đó là Hoàng Kỳ Nam. Tôi nghiệm thấy ở xã hội nào cũng vậy, và thời nào cũng vậy, người tử tế và hẳn hoi bao giờ cũng có “tâm hồn tự do và trách nhiệm”.Bất cứ hệ tư tưởng nào xa rời cái gốc nhân bản này cũng trở thành lý thuyết suông. Văn học (và điện ảnh) phương Tây hết sức nhậy cảm với những quyền tự do của con người nhưng tự do thường được cảm nhận ở bản thân nó, không được gắn với trách nhiệm và điều này làm cho nền văn học này nghèo đi rất nhiều.Trong văn học đương đại của ta, những nhân vật tích cực thường là những con người có tinh thẩn trách nhiệm cao, rất cao. Thiếu cảm hứng tự do. Do đó họ là những con người tốt, rất tốt nhưng nhân cách không hấp dẫn (chính điều này hạn chế tác dụng giáo dục của tác phẩm). Lão Khúng trong Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu là một nông dân cá thể thất học suốt đời chỉ thấy “ mặt đất tối thui, tối mò” nhưng lão có cảm hứng tự do, dù rằng đó chỉ là “ảo tưởng tự do hoang dã”. Và Lão Khúng là một nhân vật hấp dẫn. Phải nhận rằng ngay trong giới cầm bút chúng ta không ít người đến nay vẫn không hiểu thế nào là tự do cá nhân, khái niệm quan trọng này thường bị hiểu chệch thành “chủ nghĩa cá nhân” ích kỷ.

Hoàng Kỳ Trung, chồng Yến Quyên và bố Hoàng Kỳ Nam, là một nhân vật anh hùng. Suốt cuộc đời cầm súng vệ quốc, từ khi tòng quân làm lính đến trở thành sĩ quan cao cấp, Trung bao giờ cũng là một quân nhân gương mẫu. Nhân vật này có những nét đặc sắc vẫn thường được nêu lên ở những người cộng sản kiên cường:“ý chí sắt đá”, giữ vững lập trường quan điểm đến cùng, nêu gương “tinh thần bất khuất”, bị địch tra tấn dã man không khai nửa lời…Trân trọng biểu dương những nét ưu tú của quân nhân Hoàng Kỳ Trung, tác giả không ngần ngại vạch ra những khuyết điểm, những méo mó kỳ quặc ở nhân vật này: “nói câu nào cũng dùng mệnh lệnh” (“có khi đi ngủ với vợ cũng dùng mệnh lệnh”), không cho phép bất kỳ ai “nói ý kiến riêng của minh”; lập trường,quan điểm một cách cứng ngắc, chỉ thấy địch và ta, không phải ta thì là địch, khác ta cũng là địch rồi, và thế là ở đâu cũng thấy địch, mỉa mai thay, trong Cải cách ruộng đất, những cốt cán “bố láo” cứ một mực quy bố mẹ Trung là “địa chủ cường hào, việt gian phản động” thì bây giờ, đến lượt mình, ông Trung sẵn sàng quy ông bà Đức Cường và Thương Huyền (những người tốt cảnh ngộ éo le) là “kẻ thù không đội trời chung”. Quy kết vội vàng, bừa bãi là bệnh “ấu trĩ” nhưng nếu không thấy đựơc nguồn gốc của nó thì dễ trở thành bệnh kinh niên. Căn của bệnh này là ở nếp nhìn, nếp nghĩ “bửa đôi thế giới”thành những nửa đối kháng với nhau, phe xã hội chủ nghĩa đối kháng với phe đế quốc chủ nghĩa, giai cấp vô sản đối kháng với giai cấp tư sản…, đến lượt thế giới vô sản lại được bửa đôi, có thời là “đệ tam” và “đệ nhị”, “stalinixt và trôtkixt”, có thời là “ chủ nghĩa Mác Lênin chân chính” và “chủ nghĩa xét lại” và vân vân, vân vân…Thực ra những mặt đối kháng chỉ là những cực được trừu xuất để lý thuyết hóa, giửa hai cực là vô vàn dòng chảy ngược xuôi, qua lại, hòa trộn… Sự sống thực tại của nhân loại là ở những dòng chảy chứ không phải ở những cực đối kháng trừu tương.. Thói xấu quy kết vô tội vạ và những lề thói kỳ quặc khác của ông Trung có một thời được cánh trẻ gọi là “bôn” (họ rất hóm khi đặt ra từ này, họ trả lại từ bôn-sơ-vích cho Đảng Cộng sản Liên xô (b), dùng từ “bôn” Việt hóa để riễu những cái ẩm ương, cực đoan vô lối của những đảng viên làm khổ và hành họ). Với những nét “bôn” ở nhân vật Trung dễ hinh dung ông là một người quá sơ đẳng, khờ khạo, thậm chí “ngu si”. Với sự tinh tế và sâu sắc của một tiểu thuyết gia già dặn, tác giả phát hiện một Hoàng Kỳ Trung khác ấn sau Hoàng Kỳ Trung “bôn”. Trung sớm thấy và luôn luôn thấy những mặt trái của cách mạng.Cách mạng lớn lao và hào hùng, nhưng mặt trái của nó cũng vô cùng khủng khiếp. Trung sớm có một cách ứng xử trước bộ mặt hết sức phức tạp của cách mạng Những năm tuổi thiếu niên, trong thời gian cải cách, Trung chứng kiến những thảm cảnh của gia đình mình và thể nghiệm trên bản thân mình sự lăng nhục độc ác. Trung “nuốt hận