Cách phong giáo sư lâu nay sinh ra bệnh háo danh

PGS.TSKH Trần Ngọc ThêmLao động cuối tuần
09:20' SA - Thứ hai, 10/05/2010

Thực trạng nhiệm vụ và chế độ chính sách đối với giáo sư, phó giáo sư (GS-PGS) ở ĐHQG TPHCM không nằm ngoài thực trạng nhiệm vụ và chế độ chính sách đối với GS-PGS ở VN nói chung. Mà thực trạng đó, đến lượt mình, bị quy định bởi những nhược điểm và hạn chế của một nền văn hoá gốc nông nghiệp điển hình.

Những “ông quan” giáo sư

Hạn chế lớn thứ nhất của một nền văn hoá nông nghiệp điển hình là chất âm tính, trọng tĩnh, chỉ cần ổn định chứ không cần phát triển. Vì vậy VN không có truyền thống khoa học. VN truyền thống chỉ quan tâm đào tạo người làm quan, làm công chức.

Nền đại học VN theo phong cách phương Tây có từ thời Pháp và phát triển sau năm 1945, nhưng mãi đến năm 1976 mới có quyết định hình thành hệ thống chức vụ khoa học [Quyết định 162/CP-1976], và đến năm 1977 mới có quyết định về việc công nhận chức vụ GS và PGS [Quyết định 271-CP 1977].

Hạn chế lớn thứ hai của một nền văn hoá nông nghiệp điển hình là tư duy tiểu nông thiếu tầm nhìn xa nên làm việc thiếu kế hoạch. Vì vậy mà công nhận chức vụ khoa học từ năm 1977 nhưng mãi 12 năm sau mới thành lập Hội đồng xét duyệt học vị và chức danh khoa học Nhà nước bằng một Nghị định với 7 điều rất sơ sài [Nghị định 153 - HĐBT 1989]. Trong suốt hơn 10 năm Hội đồng làm việc thiếu kế hoạch, năm xét phong năm không. Phải đợi tiếp 12 năm nữa mới có một Nghị định quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh GS và PGS [Nghị định 20-CP 2001].

Hạn chế lớn thứ ba của một nền văn hoá nông nghiệp điển hình là do tư duy tổng hợp chung chung nên làm việc gì cũng đại khái, thiếu quy trình bài bản cụ thể. Vì vậy mà hình thành hệ thống chức vụ khoa học từ năm 1976 nhưng phải đợi 25 năm sau mới có quy định về tiêu chuẩn chức danh GS-PGS [Nghị định 20-CP 2001]. Và phải chờ tiếp 7 năm nữa đến Quyết đinh 174-2008 mới có một điều quy định về nhiệm vụ của GS và PGS, còn quyền của GS-PGS (điều 6) thì hết sức sơ sài, chế độ chính sách thì hoàn toàn không có (HĐCDGS NN đưa ra thảo luận và đế xuất từ năm 2004 nhưng không được thông qua).

Hạn chế lớn thứ tư của một nền văn hoá nông nghiệp điển hình là thói quen trọng danh hơn thực, trọng danh hơn lợi. Mặt tốt của nó là tạo ra một truyền thống lâu đời coi trọng giới khoa bảng và những người có bằng cấp cao (Muốn sang phải bắc cầu kiều..; Nhất tự vi sư...). Nhưng cũng chính nó là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của quan niệm phổ biến coi GS là một thứ “hàm” kiểu như những phẩm hàm phong kiến thời xưa.

Học hàm là danh hiệu trong hệ thống giáo dục và đào tạo được một tổ chức có quyền hạn nào đó phong (tặng) cho một người làm công tác giảng dạy hoặc nghiên cứu. Sau này đổi sang gọi là “chức danh khoa học” nhưng cách hiểu vẫn không thay đổi là bao. Chức danh là chức phận về danh tính của một người được xã hội công nhận, vì vậy mà khái niệm “cử nhân” nếu so với thạc sĩ, tiến sĩ thì là học vị, còn nếu so với bác sĩ, dược sĩ, kiến trúc sư thì là chức danh.

Chính vì coi GS là phẩm hàm, danh hiệu nên Nghị định 20-CP năm 2001 tuy nói đến “bổ nhiệm chức danh” nhưng trên thực tế thì trong suốt 8 năm chỉ dừng lại ở việc “xét công nhận [= phong] chức danh” mà không kèm theo bất kỳ quy định cụ thể nào về nhiệm vụ cho người được phong.

Chính vì chỉ công nhận và phong danh và thiếu quy định về nhiệm vụ nên quan niệm và cách làm này đã sản sinh ra căn bệnh “háo danh”, tệ nạn khệnh khạng bằng cấp, và thực trạng có một bộ phận “danh hão”, tạo ra vô số những ông “quan giáo sư” như các giáo sư Hoàng Xuân Sính và Hoàng Tụy từng nói [Hoàng Xuân Sính 2008; Hoàng Tụy 2009]. Cũng chính do truyền thống “háo danh” và căn bệnh “cào bằng” của văn hoá nông nghiệp này mà một thời (những năm 1990) ở Việt Nam đã đẻ ra tên gọi “giáo sư II” để gọi các phó giáo sư”!

Có danh mà không có thực

Do chỉ quan tâm đến danh mà không lo chế độ chính sách nên quan niệm và cách làm này đã dẫn đến thực trạng của GS-PGS VN là thu nhập từ trường đại học nơi mình làm việc không đủ đảm bảo đời sống của bản thân và gia đình; việc trả lương nặng về chủ nghĩa bình quân, không phản ánh đúng và chưa tương xứng với năng lực và kết quả làm việc của mỗi GS-PGS (mức lương trung bình dành cho GS như những giảng viên hàng đầu của các nước là 5.318 USD/tháng, trong khi đó, mức lương trung bình của GS VN vào năm 2008 là 200 USD/tháng, thuộc diện thấp nhất thế giới-so với lương trung bình của GS ở Châu Á là 1.000 USD).

Thêm vào đó và cũng một phần do đó mà môi trường làm việc chưa tốt, điều kiện làm việc thiếu thốn, nề nếp kỷ cương bị buông lỏng, v.v... khiến cho ở một số nơi, hàng loạt cán bộ có bằng cấp, năng lực nghỉ việc ở các cơ quan nhà nước để ra làm ngoài. Sinh viên giỏi tốt nghiệp không muốn ở lại trường giảng dạy mà chỉ thích đi làm cho công ty nước ngoài!

Rõ ràng, muốn thay đổi bộ mặt của nền khoa học và giáo dục VN thì một trong những công việc quan trọng là phải sử dụng một cách hiệu quả đội ngũ GS-PGS. Mà muốn nâng cao được hiệu quả đội ngũ GS-PGS thì phải thay đổi về cơ bản quan niệm và cách thức sử dụng họ.

Việc “bổ nhiệm chức danh GS-PGS” theo Quyết định 174-2008 mà VN đang tiến hành chính là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, việc làm này chỉ có thể được thực hiện một cách thực sự hiệu quả nếu có quy định về nhiệm vụ hợp lý và rõ ràng, kèm theo chế độ chính sách về môi trường làm việc và đãi ngộ thoả đáng.

Tại các Hội thảo ở Hà Nội và TPHCM bàn về chế độ chính sách sử dụng hiệu quả đội ngũ GS-PGS, nhiều ý kiến đề xuất rằng các GS-PGS sau khi được phong chức danh phải tham gia đào tạo đại học và sau ĐH, bồi dưỡng cán bộ khoa học trẻ, xây dựng và đổi mới chương trình đào tạo, tổ chức nghiên cứu khoa học...

GS trong 3 năm sau khi được công nhận phải viết sách chuyên khảo hoặc giáo trình, sách tham khảo về lĩnh vực chuyên môn của mình, trong 2 năm sau khi được công nhận phải chủ trì ít nhất một đề tài NCKH cấp bộ trở lên...

Như vậy, rõ ràng là trong hoàn cảnh những đặc điểm của văn hoá VN hiện nay, việc quy định mang tính định lượng chặt chẽ để dễ quản lý và thi hành là thật sự cần thiết.

Cách phong giáo sư lâu nay sinh ra bệnh háo danh
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,