Nền giáo dục theo tinh thần nho giáo

Gs. Đặng Đức SiêuNho giáo xưa và này (Vũ Khiêu chủ biên)- viện khoa học xã hội Việt Nam
02:49' CH - Thứ hai, 09/11/2009

Khổng Tử - ông tổ của Nho gia, sống và hoạt động ở thời Xuân thu (1) một thời đại lịch sử mà các nhà Nho sau này đã phê phán là thời “đời suy đạo hỏng”, “vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con” đạo lý cương thường đảo ngược, thiên hạ đại loạn. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào những sự thực lịch sử không thể phản bác để chứng minh rằng đó là một thời kỳ có nhiều có biến chuyển lớn lao, ảnh hưởng mạnh mẽ tới mọi mặt hoạt động của xã hội Trung Hòa cổ đại.

Nhìn chung, đó là thời kỳ mà hoa tộc (hạt nhân của Hán tộc sau này) đã hình thành do sự hỗn hợp nhiều chủng tộc khác nhau trên cơ sở dân cư miền trung nguyên (miền đất đai rộng lớn phì nhiêu nằm giữa phía nam Hoàng Hà và phía Bắc Trường Giang). Cương vực của Trung Hoa cổ đại đã ổn định sau các cuộc chiến tranh với nước ngoài và chiến tranh khiêm tính giữa các nước chư hầu; nông nghiệp, công thương nghiệp khá phát triển, văn hóa giáo dục vốn do quý tộc khống chế lũng đoạn đã dần dần truyền bá xuống các giai tầng khác trong xã hội và có đà phát triển mạnh mẽ. Quý tộc cũ (công thất) suy vi dần (do ăn chơi xa xỉ, do sát phạt lẫn nhau để tranh quyền đoạt lợi… ); Thế lực của quý tộc mới (nòng cốt là giai cấp địa chủ mới hưng khởi) ngày càng chiếm ưu thế); Tầng lớp tiểu nông bị phá sản hàng loạt, lâm vào cảnh đói khổ triền miên... Những biến đổi to lớn ấy thế tất phải phản ánh vào những hoạt động văn hóa tư tưởng. Nhiều nhà trí thức lớn đã xuất hiện, đề xuất nhiều phương án nhằm cải tạo và phát triển xã hội, hoặc chí ít cũng nhằm ổn định lại những mặt chủ yếu của cuộc sống trong thời đại đầy biến động này, dưới nhiều quan điểm triết học tư tưởng khác nhau. Nổi bật nhất có thể kể: Khổng tử đại biểu cho học phái Nho gia; Mặc Địch đại biểu cho Mặc gia; Lão tử, Trang tử đại biểu cho Đạo gia và hàng loạt nhà hoạt động chính trị mang tư tưởng pháp gia mà tiêu biểu hơn cả là Hàn Phi tử ở thời Chiến quốc.

Nho gia chủ trương bảo vệ “công thất”, bảo tồn những giá trị, những thiết chế văn hóa cũ thời Tây Chu (khoảng thế kỷ 11 đến năm 771 TCN), ra sức tuyên truyền cho lễ nhạc, danh phận, tông pháp, hiếu đế nhân nghĩa, cương đạo, nhân chính v.v... mong muốn dùng những điều đó để giáo hóa nhân dân, để củng cố vương triều, để hạn chế bớt sự tham lam, tàn bạo, xa xỉ, lạm quyền, chuyên chế của giai cấp thống trị, nhằm ổn định cục diện xã hội chính trị đương thời. Mặc gia chủ trương thuyết kiêm ái, muốn quân bình tài sản, thực hành tiết kiệm, tôn trọng người hiền tài... Đạo gia chủ trương thuyết “vô vi”, thuận theo tự nhiên, lý tưởng hóa cuộc sống cổ ở nơi thôn dã... Pháp gia chủ trương đẩy mạnh sản xuất, xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh, coi trọng những vấn đề của cuộc sống trước mắt, ít chú ý tới các thánh chúa hiền vương thuở trước. Ngay cả những điều hiếu đễ nhân nghĩa... cũng không thu hút được sự quan tâm của họ.

Thời bây giờ “vương thất nhà Chu” chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Ở các nước chư hầu “công thất” nói chung chỉ còn hư vị; thực quyền nằm cả trong tay các đại phu, các gia thần... Chính vì vậy, các chủ trương tôn Chu, ủng hộ công thất hạn chế quyền lực của đại phu, gia thần, chính danh phận, thực hành lễ giáo, đức trị v.v... do Khổng tử đề xuất hoàn toàn không phù hợp với yêu cầu và khẩu vị của những thế lực đương quyền. Ông đã từng đến nhiều nước chư hầu để tìm cách “thi hành đạo lớn” nhưng chẳng được nước nào tin dùng. Thất bại trên trường chính trị, ông lui về dồn hết tâm trí, sức lực việc chỉnh lý di sản văn hóa cổ và dạy học cho tới những năm tháng cuối cùng của cuộc đời. Chính trong lĩnh vực này Khổng tử đã đạt được những thành tựu rất to lớn, có giá trị lịch sử nổi bật, tạo ra được những hướng cực kỳ sâu sắc đối với đời sau.

Các quan điểm về giáo dục cũng như thực tiễn hoạt động giáo dục của Khổng tử gắn bó chặt chẽ với tư tưởng triết học và hệ thống quan điểm chính trị xã hội của ông. Nói cách khác, sau khi bị bế tắc trên đường hoạt động chính trị, Khổng tử đã gửi gắm hoài bão vào việc đào tạo một tầng lớp nhân tài theo khuôn mẫu, lý tưởng của mình. Khả dĩ thay mình thực hành “đạo lớn” trong thiên hạ. Nghe nói, ông có tới 3000 học trò, trong số đó có 72 người thành đạt nổi (thất thập nhị hiền).

Theo Luận ngữ (sách ghi lời nói việc làm của Khổng tử và của một số môn đồ) thì nội dung giảng dạy của Khổng tử bao gồm 4 phân khoa: đức hạnh, ngôn ngữ, chính trị, văn học. Tuy có sự phân chia như vậy nhưng mục tiêu chủ yếu vẫn là bồi dưỡng những người có đức nhân, người quân tử có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn” theo tôn chỉ của Nho gia. Nhìn tổng quát, nền giáo dục theo tư tưởng Nho gia ở giai đoạn sơ khởi, do Khổng tử đích thân tổ chức và tiến hành, có một số điểm cần đặc biệt lưu ý như sau:

1.Thích ứng với xu thế “văn hóa học thuật chuyển xuống dưới” ở thời Xuân Thu, hoạt động giáo dục của Khổng tử trên chừng mực nhất định có mang tính chất phổ cập, bình dân, chống độc quyền văn hóa của giai cấp quý tộc. Ông từng nói: “Trong việc dạy dỗ, ta không phân biệt loại người này, loại người kia” (Hữu giáo vô loại) – thiên Vệ Linh Công – Sách Luận ngữ;“Từ người chỉ có một bó nem mang đến (để làm lễ ra mắt xin học), trở lên, ta chưa từng (vì lễ vật đơn sơ) mà từ chối không dạy “Tự hành thúc tu dưỡng thượng, ngô vị thường vô hối yêu”- thiên Thuật nhi - sđd)… Chủ trương này được thực hiện khá rộng rãi và nhất quán ở các đời sau, kết hợp với chế độ thi cử, thực tế đã mở đường tiến thân cho nhiều người có tài năng xuất thân từ bình dân (đó chính là hiện tượng “bố ý khanh tướng” - các khanh tướng xuất thân từ tầng lớp bình dân, áo vải).

2. Đề cao việc học tập - Khổng tử quan niệm sự hiểu biết không phải là sinh ra đã có sẵn mà phải được tích lũy qua quá trình học tập, rèn luyện khá công phu. Ngay các đức tính như nhân, trí, tín, trực, dũng, cương cũng cần phải học tập rèn luyện thì mới có thể phát triển đúng hướng, ứng dụng hoàn hảo. Ông chủ trương muốn ra hành đạo giúp đời cần phải học thật giỏi (“Học ưu tắc sĩ”). Sách Luận ngữ còn ghi lại một đoạn đối đáp giữa Khổng tử và học trò là Tử Cao như sau: “Tử Lộ muốn đưa Tử Cao (một người chưa được học hành đến nơi đến chốn) ra làm chức huyện trưởng huyện Phí. Khổng tử nghe tin đó bèn nói: “Như vậy là làm hại con nhà người ta!” Tử Lộ nói: “Nơi đó có dân, có đất đai, có thóc lúa (cứ đứng ra mà cai trị rồi sẽ quen việc) hà tất phải học tập trên sách vở rồi mới được coi là có học!” Khổng tử bèn mắng luôn: “Vì vậy ta mới ghét cái trò nguy biện khéo nói của nhà ngươi” (xem Thiên Tiên Tiến - Sđd). Truyền thống “hiếu học” của các nước phương Đông chịu ảnh hưởng Nho giáo có lẽ cũng bắt nguồn từ đây.

3. Xác định rõ mục đích của việc học tập, đó là: hành đạo, giúp vua, giúp nước. Ông từng nói: “Học thuộc lòng ba trăm bài thơ trong Kinh Thi, giao cho việc chính sự, không làm nổi; sai đi sứ ở bốn phương, không biết đối đáp ra sao. Như vậy thì tuy học nhiều thật đấy nhưng nào có ích lợi gì đâu“ (xem Thiên Tử Lộ - Sđd)... Sau khi đã khẳng định giá trị của tập Kinh Thi: “Làm người mà không học thơ Chu Man, Thiệu Man thì chẳng khác gì đứng quay mặt vào tường (chẳng nhìn thấy gì, mà cũng chẳng nhúc nhích tiến tới được một bước)” “Học Kinh Thi có thể phát huy khả năng liên tưởng, có thể nâng cao năng lực quan sát, có thể rèn luyện tính hợp quần, có thể học được cách châm biếm phúng thích”, Khổng tử đã nhấn mạnh “gần thì có thể vận dụng những đạo lý trong đó để thờ cha, xa thì có thể vận dụng những đạo lý trong đó để thờ vua…” (Xem Thiên Dương Hóa - Sđd). Chủ trương này sẽ được tiếp tục triển khai thành các mệnh đề “trí quân trạch dân”, “Kinh bang tế thế” trong tư tưởng các nhà Nho lớp sau.

4. Kết hợp chặt chẽ việc truyền thụ tri thức văn hóa vào việc rèn luyện phẩm chất đạo đức. Ở mức độ nhất định, có thể nói Khổng tử chủ trương coi việc rèn luyện đạo đức là ưu tiên số một. Ông từng căn dặn các môn đồ nhỏ tuổi: “Này các trò, ở trong nhà thì ăn ở hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì kính trọng nhường nhịn các bậc huynh trưởng; nên ít lời và đã nói thì phải thành thực, nên thân yêu rộng khắp mọi người nhưng nên gắn đủ những người có đức nhân. Thực hiện được đầy đủ những việc đó rồi, nếu còn dư sức lực thì sẽ dùng để trau dồi tri thức văn hóa” (xem Thiên Dương Hóa - Sđd).

5. Theo quan niệm của Khổng tử, đỉnh cao mà việc rèn luyện nhân cách cần đạt tới là con người “toàn đức” (bao gồm cả ba phẩm chất nhân, trí, dũng, con người coi việc thực hiện “đức nhân” là lý tưởng tối cao, có thể hy sinh thân mình để hoàn thành điều nhân (sát thân thành nhân). Rất coi trọng vai trò của ý chí lý tưởng, ông từng nói: “Có thể bắt sống tướng soái của ba quân nhưng khó lòng cưỡng ép một người bình thường rời bỏ ý chí” (xem Thiên Tử Hãn - Sđd). Chính những chủ trương quan niệm trên đây đã góp phần tạo nên cái sau này được gọi là “khí tiết sĩ phu”, góp phần tạo nên những nhân cách cứng cỏi: “Phú quý không thể làm sa đọa đam mê, nghèo khổ không thể lay chuyển được ý chí, uy vũ không thể khuất phục nổi” (Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất).

Nền giáo dục theo tinh thần nho giáo
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,