Tôi đọc bài: "Đạo Công giáo với vấn đề mê tín và tệ nạn xã hội" của TS Phạm Huy Thông

Trần Chung NgọcĐạo Phật ngày nay
06:12' CH - Thứ tư, 26/03/2014

PHT: Ngay từ những buổi đầu truyền giáo đến Việt Nam, nhiều giáo sĩ dù nhận ra ở xứ sở này có nhiều điều tốt đẹp từ truyền thống gia đình đến văn hoá, xã hội nhưng cũng chỉ ra nhiều phong tục mê tín, dị đoan. Alexandre de Rhodes ( Đắc Lộ) đã dành hẳn chương 25 trong cuốn Histoire du Royaume de Tunquin ( Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài) để nói về những tập tục lạc hậu này. Ông viết: “Người Đàng Ngoài có tâm tình hiếu thảo rất đặc biệt đối với cha mẹ đã qua đời và tiêu phí quá đáng để cúng giỗ. Vì thế không những họ đâm ra nghèo túng mà còn làm cho họ mắc nợ nần, bởi muốn theo tục lệ và phép xã giao nên không những phải chi dụng về cỗ bàn mà còn về các nghi lễ khác, vừa vô ích vừa phù phiếm, nhưng theo phép xử thế, họ không sao tự miễn cho mình được. Thí dụ, họ đua nhau dựng nhà, sắm các dụng cụ bếp núc bằng tre nứa và giấy hoa rồi đem đi đốt. Họ điên dại tin rằng nhờ đồ vàng mã này người quá cố được nhà đẹp, đồ dùng tươm tất trong thế giới các người tới. Cũng điên dại như thế, vào ngày cuối năm, họ sắm quần áo cũng làm bằng giấy hoa rồi đem đốt. Họ kỳ khôi tưởng rằng hàng mã này sẽ hoá thành áo mới, vải đẹp để dùng trong năm mới. Vì thế chúng tôi đã công khai công kích dị đoan và chế diễu tập quán kỳ dị này” (2). Đọc những dòng trên, chúng ta có lẽ cũng ngạc nhiên, vì đến tận hôm nay, không ít người “ vẫn điên dại” và chắc là điên dại hơn vì họ sống ở thời kỳ khoa học hiện đại, có trình độ học thức gấp nhiều lần những người dân Đàng Ngoài sống cách đây gần 400 năm, xong họ vẫn đốt và còn đốt vàng mã nhiều hơn, kỳ dị hơn từ ô tô cho đến người mẫu, từ tiền giả đến tiền thật.

TCN: Trích dẫn Alexandre de Rhodes trong cuốn Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài, TS Phạm Huy Thông đã dùng kiến thức của một thừa sai Công Giáo trong thế kỷ 17, một kiến thức không thể gọi là kiến thức, về tôn giáo và những phong tục tập quán của Việt Nam như tôi đã chứng minh ở trên. Rhodes cho rằng người Việt Nam đã tiêu phí quá đáng để cúng giỗ, và con chiên Phạm Huy Thông ngày nay cũng cho rằng như vậy. Nhưng người Việt Nam có nghĩ như vậy không. Vấn đề là người dân Việt Nam đã bao nhiêu đời theo tục lệ cúng giỗ tổ tiên mà Công giáo độc thần cho là một hình thức thờ phụng thần linh cho nên đã cấm đoán qua bao thế kỷ. Người Công giáo bị cấm không cho thờ cúng tổ tiên mà chỉ được thờ Chúa của Do Thái nên cho rằng cúng giỗ là tiêu phí quá đáng. Đối với họ, để 10% lợi tức đóng cho nhà thờ của Chúa với hi vọng sẽ được lên thiên đường (mù), thì không phải là tiêu phí trong khi cả mấy tỷ đô-la Giáo hội đã phải bỏ ra để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các “Chúa thứ hai” (Alter Christus). Cúng giỗ không phải là tiêu phí quá đáng vì đó là một nếp sống trong dân gian, và cúng giỗ như thế nào tùy theo hoàn cảnh kinh tế của người dân. Trước hết, đó là để tỏ lòng hiếu thảo, nhớ đến những người đã quá cố. Thứ đến, những thức ăn cúng giỗ chính người sống hưởng, vậy tiêu phí ở chỗ nào? Ngoài ra, những giỗ chính còn là dịp để hội họp gia đình, con cháu, có thể từ phương xa, về đóng góp cúng giỗ. Và sau cùng, trong các làng mạc còn là dịp để thể hiện lòng tương thân tương ái của dân làng. Rhodes làm sao hiểu được những điều này, và con chiên Phạm Huy Thông cũng không hiểu nốt cho nên mới trích dẫn Rhodes. Thật là tội nghiệp.

Ai cũng biết là đốt vàng mã là sự phí phạm, mang tiền thật đổi lấy tiền giả. Phật Giáo thường xuyên khuyên nên bỏ tục lệ này, và khuyên con người nên dùng tiền vào những việc công ích hơn như là từ thiện, bố thí, mua sách vở cho học sinh nghèo v…v…. Nhưng tục lệ này đã ăn sâu trong tâm thức người Việt Nam, và sự phí phạm là cho cá nhân, nếu họ có khả năng phí phạm. Ngày nay, tục lệ này phát triển trở lại không những ở Việt Nam mà còn ở ngoại quốc, nhất là ở Mỹ. Cho nên, tôi có một cái nhìn khác về việc đốt vàng mã. Trong thời chiến, người dân nghèo, ăn không đủ, chẳng có ai nghĩ đến chuyện đốt vàng mã. Ngày nay, tục lệ đốt vàng mã lại lan tràn trong dân gian, không chỉ trong các tư nhân mà còn cả ở trong một số cơ quan, công sở, xí nghiệp. Tại sao vậy? Vì “phú quý sinh lễ nghĩa”. Phải có tiền thật mới mua được tiền giả. Hiện tượng đốt vàng mã phát triển mạnh chứng tỏ người dân nay có tiền, đời sống vật chất của người dân đã lên cao, và giới làm vàng mã cũng có công ăn việc làm, giúp cho kinh tế nước nhà. Do đó, bản thân tôi cũng cho đốt vàng mã là phí phạm và là một tục lệ nên bỏ, vì tiền mua vàng mã có thể dùng cho nhiều việc công ích hơn. Nhưng trong bất cứ xã hội nào, con người thường chỉ nghĩ cho bản thân chứ số người nghĩ đến công ích thực sự là thiểu số. Vì vậy tôi không phản đối việc đốt vàng mã, vì ai có tiền muốn phí phạm thì cứ phí phạm, chúng ta không thể xía vào đời tư của họ để mà công kích dị đoan và chế diễu tập quán kỳ dị này như tên Alexandre de Rhodes. Chúng ta chỉ có thể khuyên họ là không nên phí phạm như vậy, họ có nghe hay không là quyền của họ. Trong xã hội, có nhiều chuyện còn phí phạm hơn nhiều về xa xỉ, về ăn uống, về quần áo v..v… nhưng đó không phải là những tục lệ nên chẳng ai nói tới. Nhưng bản chất sự việc thì giống nhau, đều là những cách hành xử cá nhân. Khác nhau là ở chỗ, việc đốt vàng mã thể hiện lòng tưởng nhớ và quan tâm đến những người đã quá cố và có tác dụng làm an lòng người sống.

Chúng ta hãy đọc thêm một đoạn của TS Phạm Huy Thông:

PHT: Một hiện tượng phổ biến trong đời sống của người Việt xưa là là người đàn ông có “ năm thê bảy thiếp”. Hình như ai càng có nhiều thê thiếp càng danh giá, quyền quý: Trai chính chuyên thường dăm bảy vợ; Gái chính chuyên chỉ có một chồng. Nhưng chính lối sống đó đã đẩy bao phụ nữ vào cảnh bị ngược đãi...

Giáo lý Công giáo quy định hôn nhân một vợ một chồng. Đây là quan niệm tiến bộ ngay cả với thế giới văn minh ngày nay…

Nhiều hương ước của các làng Công giáo cổ trước đây đều có quy định khá nghiêm ngặt về hôn nhân chung thuỷ. Hương ước của làng Vĩnh Trị ghi trong điều 103: “ Làng toàn tòng Công giáo chỉ được phép nhất phu nhất phụ thôi. Vậy ai còn vợ cả mà lấy vợ hai thì làng không ăn ngồi với nữa để khỏi làm gương xấu cho kẻ khác”. Hương ước làng Nam Am, điều 67 viết: “Lại dân toàn tòng, theo luật tôn giáo, không được phép lấy vợ lẽ, ai phạm đến cũng như tội thông dâm, nếu có con thì đứa con ấy cũng như ngoại tình. Con ngoại tình, con vợ lẽ, là con giai khi đến tuổi nhập bạ thì phải nộp phạt cho làng 5đ.000”.

TCN: Chế độ đa thê của Việt Nam khi xưa (ngày nay người ta không gọi là vợ lẽ mà là “bồ nhí”) là phù hợp với hoàn cảnh xã hội. Chế độ này chỉ có trong lớp người có tiền, giàu có như phú ông, hương chức v..v.. chứ nông dân nghèo khó làm gì có tiền để cưới vợ lẽ, khoan nói đến năm thê bảy thiếp. Trong các ốc đảo Công giáo ở Việt Nam, chuyện có khả năng để có năm thê bảy thiếp là chuyện không tưởng, chẳng cần phải cấm. Mặt khác, trong một xã hội mà trai thiếu gái thừa, nhất là lại đối với các con gái nhà nghèo thì làm thê làm thiếp là một cách để giải quyết vấn đề sinh kế hợp pháp thay vì phải đi làm những nghề bất đắc dĩ mất nhân phẩm như gái lầu xanh để kiếm ăn. Đây là một vấn đề xã hội không liên quan gì đến vấn đề đạo đức tôn giáo của Công giáo, nếu Công giáo có cái gọi là đạo đức. Tôi biết là Công giáo có quan niệm “một vợ một chồng” . Tôi cũng biết là giáo luật Công giáo cấm ly dị. Tại sao? Vì vợ chồng là do Chúa kết hợp qua cái gọi là “bí tích” (sacrament) hôn phối, mà “bí tích” là Chúa đặt ra, cho nên không thể ly dị. Nhưng quan niệm một vợ một chồng kèm theo với giáo luật cấm ly dị của Công giáo chẳng phải là một quan niệm tiến bộ, mà là sự tổng hợp của mê tín, vì tin rằng chính Chúa đã đặt ra “bí tích” hôn phối, và sự ngu xuẩn của Giáo hội vì giáo hội chỉ quan tâm đến luật lệ chứ không quan tâm đến thực trạng xã hội trong đó có những cặp vợ chồng không hợp với nhau, hoặc người vợ bị hành hạ, bạc đãi, coi như nô lệ v..v…bị bắt buộc sống với nhau thì cũng chẳng khác gì sống trong địa ngục. Thực tế là, trong thế giới Âu Mỹ, thế giới của Ki Tô Giáo, tỷ lệ những cặp vợ chồng do Chúa kết hợp rồi ly dị lên tới trên dưới 50%. TS Phạm Huy Thông cũng nói đến tệ nạn ly hôn ở Việt Nam. Nhưng TS có biết là mỗi năm có bao nhiêu tín đồ Công giáo xin hủy bỏ hôn ước [annulment] không? Giáo hội cấm ly dị nhưng có biện pháp hủy bỏ hôn ước, gọi là “annulement”. Thưa với TS, mỗi năm trung bình có trên 50000 (năm mươi ngàn) cặp vợ chồng Công giáo được tòa xử của Công giáo (Catholic trials) cho phép hủy bỏ hôn ước. Theo lời giải thích lắt léo của Giáo hội thì Annulment là một tuyên bố của tòa xử Công giáo rằng hôn ước giữa hai người đã được Chúa kết hợp trong “bí tích” (sacrament) hôn phối trở thành vô hiệu (void) vì chưa từng xảy ra chứ không phải là ly dị. [Annulment means that in the view of canon lawyers no marriage has taken place: it is not a divorce, it is a statement that the marriage, as a sacrament, was null and void] Đó là giáo luật “một vợ một chồng” rất tiến bộ của Công giáo đấy.

TS Phạm Huy Thông đưa ra Hương ước của làng Vĩnh Trị cũng như Hương ước làng Nam Am, với những luật lệ riêng, nghiêm cấm những chuyện hợp pháp ở Việt Nam, đã chứng tỏ những lời Helen B. Lamb viết ở trên là đúng:

Trong bốn thế kỷ, Công giáo vẫn còn như là một lực lượng chia rẽ trong xã hội Việt Nam. Để tăng cường cái vực thẳm ý thức hệ giữa những tín đồ Công giáo và đại khối dân tộc, những tín đồ Công giáo thường sống trong những làng mạc riêng biệt, dưới quyền thống trị của các linh mục, y như những làng mạc trong thời Trung Cổ ở Âu Châu cách đây 500 năm. [Linh Mục Trần Tam Tĩnh đã gọi những làng mạc riêng biệt này là những “ốc đảo ngu dốt”] Vì ngu dốt và cuồng tín, Công giáo đã không biết đến những tình trạng xã hội trong đất nước Việt Nam, cho nên đã ngăn cấm giáo dân những điều không đáng cấm, những điều mà đối với người dân Việt Nam đều là hợp Pháp. Đó không phải là Công giáo tiến bộ mà là mù quáng tuân theo những luật lệ của Giáo hội, nhiều khi trái ngược với truyền thống xã hội của Việt Nam. Đọc lịch sử các Giáo hoàng Công giáo, chúng ta thấy không thiếu những vị, không phải là chỉ có năm thê bảy thiếp, mà còn hoang dâm vô độ, loạn luân, ngủ cả với mẹ và con, ngoài những chuyện độc ác như giết người v…v…. Xin đọc trong: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN20.php, bài “Đây!! Những “Đức Thánh Cha”, Đại Diện Của Chúa Trên Trần Và Là Chủa Chăn Của Giáo Hội Công Giáo “Thiên Khải, Duy Nhất, Thánh Thiện, Tông Truyền”. Sau đây là một đoạn điển hình trong đó:

Trong thời đại này, không phải là Thánh Linh tuyển chọn giáo hoàng mà là, theo Hồng y Baronius, những cô gái điếm (scortas). Đó là “luật lệ của những cô gái điếm hạng sang” (rule of the courtesans), đôi khi còn được gọi là “chế độ điếm trị” (Pornocracy), hay là triều đại của các cô gái điếm (reign of the whores). Trong số điếm này có một người mà Baronius gọi là “con điếm vô liêm sỉ”, Theodora, và đứa con gái vô liêm sỉ không kém là Marozia. Cả hai mẹ con đều có con với giáo hoàng Sergius III, và cả hai đều đưa những đứa con hoang của mình lên ngai giáo hoàng - John XI và John XII. John XI bị cầm tùJohn XII đã “biến dinh Lateran (nơi giáo hoàng ở, trong Vatican. TCN) thành một ổ điếm”. Không có một tội ác nào mà John XII không làm - giết người, khai gian, thông dâm, loạn luân với hai em, đâm chém và thiến kẻ thù v..v.. Hắn ta chết trong tay của một người chồng bị xúc phạm (vì bị bắt quả tang đang thông dâm với vợ người này.)

Tôi chẳng muốn phê bình tiếp TS Phạm Huy Thông, vì những điều ông ta viết chẳng có gì đặc biệt để chứng tỏ Công giáo là đạo tiến bộ, văn minh. Nhưng có một câu tôi không thể bỏ qua.


GS Phạm Huy Thông viết: Đạo Công giáo nghiêm cấm các hành vi mê tín, dị đoan. Vậy tôi xin có vài vấn đề đặt với ông TS: Tại sao Công giáo không nghiêm cấm những hành vi cực kỳ mê tín như sau:

1) “Các tín đồ Công Giáo, khi ăn một cái bánh nhỏ mà họ thường được dạy là “bánh thánh”, tin rằng mình đã thực sự ăn thịt và uống máu Chúa Giê-su. Như vậy có phải là một hành vi mê tín, dị đoan không? Họ tin rằng một mẩu bánh làm bột thường, sau khi được ông linh mục hoa tay làm phép, lẩm bẩm vài câu bằng tiếng La-Tinh, mẩu bánh đó đã được thánh hóa và trở thành đích thực là thịt và máu Chúa của họ. Đó là niềm tin dựa vào “trí tuệ” hay chỉ là niềm tin mù quáng, nghe theo những lời lừa bịp của giới chăn chiên. Đối với người ngoại đạo chúng tôi, đó là những hành vi mê tín, dị đoan hơn bất cứ hành vi mê tín dị đoan nào khác.

2) Người Công giáo hàng ngày làm dấu cái mà họ gọi là “thánh giá”, tin rằng đó là biểu tượng “cứu rỗi”, nhưng không hề biết là cây gỗ hình chữ thập dùng để đóng đinh Chúa Giê-su chỉ tượng trưng cho một loại hình phạt tra tấn và hành quyết man rợ nhất của La Mã khi xưa. Như vậy có phải là mê tín dị đoan không? Nếu trong lịch sử loài người, chỉ có một mình Giê-su bị đóng đinh trên cái giá chữ thập thì may ra, may ra thôi, còn có người có thể tin đó là một biểu tượng “cứu rỗi” nếu họ nhắm mắt tin theo nền thần học của Ki Tô Giáo. Những Tân Ước viết rất rõ là Giê-su bị đóng đinh trên giá hình chữ thập cùng lượt với hai tên ăn trộm ở hai bên. Ngoài ra trong lịch sử còn có không biết bao nhiêu người cũng đã bị hành quyết như vậy. Vậy cái giá nào gọi là “thánh giá”, tại sao chỉ tôn sùng một cái giá mà Giê-su bị đóng đinh trên đó trong khi thực sự chẳng ai biết cái giá đó là cái nào, có gì khác biệt với các giá khác không. Và cái giá đó thánh ở chỗ nào.

3) Người Công giáo mang những đứa con sơ sinh chưa biết gì ngoài việc bú, ị, ngủ, tè và khóc, đến nhà thờ cho các ông linh mục “rửa tội”, cái tội nó không hề có. Nếu bảo đó là tội tổ tông thì Giáo Hoàng John Paul II đã dứt khoát bác bỏ khi Ngài công nhận thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, và thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc con người. Hơn nữa, ông linh mục có thể trên người đầy tội lỗi như trên 5000 linh mục đã can tội hiếp dâm các “sơ” trên 23 quốc gia và ấu dâm với trên 10000 trẻ em. Như Linh mục Nguyễn Hữu Trọng đã viết: Ở Việt Nam có những ông Linh mục không lo truyền đạo mà chỉ lo truyền giống. Mang con nít đi rửa tội có phải là mê tín hay không khi mà thuyết sáng tạo đã sụp đổ và tội tổ tông truyền xuống từ Adam và Eve chỉ là những huyền thoại cổ xưa của dân tộc Do Thái. Không những thế, tất cả những “bí tích” mà Giáo hội Công giáo đưa ra đều là mê tín cả, những bí tích mà John Walters đã liệt vào hạng “mê tín tàn bạo” (sadistic superstition) và mục đích chỉ là tạo quyền lực cho giới chăn chiên.

4) Người Công giáo tin rằng Chúa của họ được sinh ra từ một nữ trinh và bà ta còn trinh vĩnh viễn [perpetual virginity] tuy rằng sau Giê-su bà ta đã sinh ra thêm ít nhất là 6 người con nữa. Người Công giáo cũng còn tin là sau khi bị đóng đinh, chết và táng xác, ông ta lại sống lại và sau 40 ngày, tự nhiên bay lên trời mà không có sức đẩy của một hỏa tiễn đeo trên lưng. Như vậy có phải là mê tín hay không, hay đó là những niềm tin dựa vào sự hiểu biết “trí tuệ” điều mình tin? Tôi xin nhắc lại định nghĩa về mê tín mà TS viết ở trên: “ Mê tín: Tin một cách mù quáng vào thần thánh, ma quỷ, số mệnh và những điều huyền hoặc”. TS nói Công giáo là tôn giáo độc thần, vậy thần của Công giáo có thuộc loại thần thánh không? Trong Công giáo cũng còn không biết là bao nhiêu thánh mà tín đồ thường tin, có phải không?

Vậy Công giáo có mê tín dị đoan hay không? Chúng ta hãy đọc nhận định của Leon Tolstoy trong vô số các nhận định khác:

Leo Tolstoy : Tôi tin chắc rằng giáo lý của giáo hội Công Giáo là một sự nói láo xảo quyệt và xấu xa theo lý thuyết, và là sự pha trộn của sự mê tín thô thiển nhất và trò ma thuật về phương diện thực hành (I am convinced that the teaching of the Catholic church is in theory a crafty and evil lie, and in practice a concoction of gross superstition and witchcraft.) .

Xin TS Phạm Huy Thông đừng có nói là những niềm tin tôn giáo thuộc loại đặc biệt, không thể lý giải, khác với những niềm tin trong dân gian. Người Công giáo muốn tin cái gì là quyền của họ, nhưng khi họ lên tiếng cho rằng những gì không hợp với niềm tin của họ là mê tín dị đoan, trong khi đạo của họ thuộc loại cực kỳ mê tín và dị đoan thì đúng là họ không hề theo lời dạy của Chúa của họ: "Hãy lấy cây sà trong mắt ngươi ra trước rồi hãy lấy cây kim trong mắt người khác ra sau. Đừng phê phán ai để ngươi cũng không bị phê phán." Nhất là khi sự mê tín của Công giáo đã gây ra bao nhiêu tác hại cho nhân loại như chính Giáo hoàng John Paul II và bộ tham mưu của ông ta đã phải xưng thú cùng thế giới 7 núi tội ác của Công giáo đối với nhân loại tại Vatican ngày 12 tháng 3 năm 2000, trong khi sự mê tín mà không hẳn là mê tín về những tục lệ như cúng giỗ, đốt vàng mã, cúng cô hồn, xem ngày lành tháng tốt, hay xem đất để mai táng [thuộc khoa phong thủy mà nay người Tây phương cũng tin] chẳng gây hại đến bất cứ ai. Đó là sự khác biệt giữa hai loại mê tín.

Để kết luận, tôi có vài lời với các trí thức Công giáo như TS Phạm Huy Thông. Ngày nay tất cả những sự thật về bản chất, giáo lý, ảnh hưởng v..v… của Công giáo đã được phơi bày cho quần chúng. Quý vị không thể che dấu được bất cứ điều gì. Quý vị có thể nói tất cả những gì tốt đẹp về Công giáo trong các nhà thờ hay trong các ốc đảo Công giáo của quý vị với nhau. Nhưng một khi quý vị viết trên những diễn đàn truyền thông mà mọi người có thể đọc thì xin quý vị viết cho đúng và lương thiện hơn một chút, nhất là đừng có đụng đến những vấn đề mà quý vị không hiểu rõ về truyền thống dân tộc cũng như về chính tôn giáo của quý vị.. Trong thời đại này quý vị không nên đề cao đánh bóng tôn giáo của quý vị trên các diễn đàn công cộng, hành xử như là các nô lệ tâm linh, bởi vì tôn giáo của quý vị chẳng có gì đáng để tôn vinh, đề cao, đánh bóng. Tôi viết đây là viết về Công giáo nói chung chứ không viết về cá nhân Công giáo mà chắc chắn có nhiều người rất lương thiện và đạo đức không thua kém gì người “lương”. Giáo lý Công giáo thì thuộc loại huyễn hoặc để mê hoặc quần chúng. Lịch sử Công giáo là một lịch sử ô nhục đẫm máu. Đạo đức của các bậc chăn chiên, từ giáo hoàng trở xuống, chẳng có gì đáng ca ngợi. Lịch sử Công giáo Việt Nam cũng chẳng có gì đáng khen ngợi mà trái lại như trong những tài liệu của Helen B. Lamb và McLeod đã trích dẫn ở trên. Quý vị không có cách nào có thể viết lại lịch sử như quý vị đãng từng làm. Hiện nay, vụ giới chăn chiên loạn dâm và ấu dâm, với sự bao che của chính Giáo hoàng Benedict XVI và một số Hồng Y, Tổng Giám Mục ở các giáo phận v..v.. đang nổ ra như pháo trên khắp thế giới. Người ta còn đòi Giáo hoàng Benedict XVI phải từ chức vì đã che dấu và bao bọc cho những linh mục loạn dâm. Bản tin tổng hợp trên sachhiem.net ngày 26 tháng 3, 2010 có đoạn như sau:

Qua điểm tin từ những tờ báo nổi tiếng tại : Anh quốc, Pháp quốc, Ý, và Hoa Kỳ ...nhà bình luận có tên là Richart de la Cure kết luận như sau :

..."Đạo công giáo đang đi vào ngỏ cụt, và hao tốn, vị giáo hoàng hiện nay bất lực kèm theo lo lắng nay mai sẻ bị thải hồi, và nhất là thế giới nguyền rủa, căm thù ...mà từ trước đến nay Vatican thường tuyên bố .." đạo công giáo là một tôn giáo bác ái và Yêu thương hay thường gọi là công giáo hoàn cầu "...nay đang trên con đường lụi bại và nhục nhã.

Do đó, quý vị hãy nhìn lại chính tôn giáo của quý vị, về nội dung cuốn Kinh Thánh, về lịch sử của Giáo hội, về đạo đức của các bậc chăn chiên, về Vatican, về các Giáo hoàng v…v… và hãy dè dặt khi quý vị muốn đề cao, đánh bóng Công giáo. Trong thời đại này, tôn giáo dính liền với các vấn đề xã hội và được coi như là một bộ phận của xã hội, không thể đứng ngoài hay đứng trên xã hội. Không ai có thể viện lẽ tự do tôn giáo hay tự do tín ngưỡng để có thể có những hành động vô trí đứng ngoài xã hội hay đứng trên xã hội. Cho nên đừng bao giờ quý vị có quan niệm tôn giáo là lãnh vực bất khả xâm phạm vì đó là tự do tôn giáo hay tự do tín ngưỡng.

Tôi đọc bài: "Đạo Công giáo với vấn đề mê tín và tệ nạn xã hội" của TS Phạm Huy Thông
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,